Dương Minh

Vài bình luận và suy ngẫm xung quanh các câu chuyện thời sự

Tòng Giá Hoàn Kinh – Trần Quang Khải

Posted by Trần Dương on Tháng Tư 13, 2016

Tòng Giá Hoàn Kinh

    Trần Quang Khải

Đoạt sáo Chương Dương độ
Cầm Hồ Hàm Tử quan
Thái bình tu trí lực
Vạn cổ thử giang san

Các bản dịch lưu hành hiện nay đều làm sai lệch ý nghĩa của bài thơ, ví dụ như bản dịch của Trần Trọng Kim:

Chương Dương cướp giáo giặc,
Hàm Tử bắt quân thù.
Thái bình nên gắng sức,
Non nước ấy ngàn thu.

Ở đây, hành động cụ thể là “bắt giặc Hồ” hay đường lối cụ thể là “tu trí lực” đã không giữ được ý của bản gốc.

Theo từ điển Wikipedia, thì phát tích và các nhân vật nổi tiếng của dòng họ Hồ là như sau:

“Quỳnh Lưu còn là nơi phát tích của dòng họ Hồ ở Việt Nam từ thế kỷ thứ 10. Hồ Hưng Dật, người huyện Vũ Lâm, tỉnh Chiết Giang, đậ­u Trạng nguyên từ thời vua Ẩn Đế (948 – 995) nhà Hậu Hán, sang làm Thái thú Châu Diễn, đến hương Bào Đột (nay thuộc xã Quỳnh Lâm và xã Ngọc Sơn, huyện Quỳnh Lưu, tỉnh Nghệ An) lậ­p nghiệp, làm trại chủ và trở thành vị tổ khai cơ họ Hồ ở Châu Diễn. Họ Hồ ở Quỳnh Lưu có các nhân vật nổi tiếng như nhà Vua Hồ Quý Ly; nữ thi sĩ Hồ Xuân Hương; bảng nhãn Hồ Sĩ Dương, Hoàng giáp Hồ Sĩ Đống, Hồ Phi Tích, nhà cách mạng Hồ Tùng Mậu, Hoàng Văn Hợp, liệt sĩ cách mạng kháng chiến chống Pháp (1930-1931) nguyên Huyện ủy viên huyện ủy Quỳnh Lưu – Nghệ An,… Họ Hồ đến Yên Thành thì có Hồ Tông Thốc,… ra Thanh Hóa thì sinh ra Hồ Quý Ly,… vào Hưng Nguyên thì tạo nên dòng dõi Quang Trung nhà Tây Sơn.”

Nhìn lại những tác động tiêu cực của nhà Hồ tới dòng chảy lịch sử của dân tộc Việt trong 500 năm qua, như:

  • Hồ Quý Ly cổ động tạo phản làm mất nước,
  • Hồ Huệ (hay Quang Trung – Nguyễn Huệ) cổ động võ lực, nhưng lại để anh em ruột thịt tương tàn trong nội chiến,
  • Hồ Chí Minh cổ động bạo lực cách mạng, cướp chính quyền, sau khi đã ở trên đỉnh cao quyền lực và danh vọng thì lại từ bỏ anh chị em ruột thịt và không chịu nhận vợ con,

thì đều có thể thấy là đã đi ngược lại “đạo” “thái bình” được chỉ ra trong bài thơ là “tu trí lực”. “Tu trí lực” bao hàm việc biết tự tu thân, tề gia và biết trân trọng hiền tài trong công cuộc trị quốc bình thiên hạ, chứ không mờ nhạt và thiếu rõ ràng về ý nghĩa như cụm từ “nên gắng sức”.

Posted in Uncategorized | Leave a Comment »

Khi Mặt Hồ nổi sóng, Thần Kim Quy xuất hiện – Nguyễn văn Thành

Posted by Trần Dương on Tháng Một 22, 2016

http://ttntt.free.fr/archive/thankimquihtml.htm

 

Trong kho tàng Huyền Sử Việt Nam, hình tượng « Thần Kim Quy » xuất hiện nhiều lần, xuyên qua nhiều câu chuyện khác nhau:

–   Lần thứ nhất, với danh hiệu là sứ giả Thanh Giang – xuất phát từ Dòng Sông Xanh – Thần đã hiện ra, giúp An Dương Vương xây dựng Đền Tháp Cổ Loa (1).

–   Lần thứ hai, sau khi hoàn tất công trình xây cất, Thần lại hiện nguyên hình là con rùa vàng rất lớn. Thần rút một cái móng chân của mình, trao cho An Dương Vương, và dặn rằng: « Nhà Vua giữ lấy móng chân này để làm lẫy nỏ. Khi có giặc, hãy đem ra bắn. Mỗi một phát có thể tiêu diệt được hàng nghìn quân giặc » (2).

–   Lần thứ ba, sự việc xảy ra, sau khi Trọng Thủy, con trai của Triệu Đà đã dùng kế cầu hôn, để đánh cắp chiếc nỏ thần đem về Phương Bắc. Nhờ đó, Phương Bắc lập tức xua quân sang chiếm cứ Nước Âu Lạc. Nhận thấy phương tiện đề phòng thành lũy đã trở thành vô hiệu, An Dương Vương vội vàng lên ngựa, đèo sau lưng đứa con gái của mình là Mỵ Châu, trốn thoát ra ngoài, bằng cửa sau. Trên đường chạy loạn, An Dương Vương đã mở lời khấn vái, cầu xin trời đất phù hộ. Thần Kim Quy lại xuất hiện và bảo Nhà Vua rằng: « Giặc ở đằng sau lưng ». An Dương Vương giật mình, rút thanh gươm chém Mỵ Châu, rồi nhảy xuống biển tự vẫn (3).

–   Từ lần thứ tư trở lui, dưới hai triều Lý và Lê, sau khi đã hoàn tất công việc bình định đất nước Đại Việt, ở phía bắc cũng như ở phía nam, các Nhà Vua thường lập đàn tế thần trên Hồ Tây ở Thăng Long. Mỗi lần có những cuộc lễ như vậy, Thần Kim Quy đều hiện ra và thu hồi chiếc gươm « bảo quốc », mà Thần đã trao ban cho các ngài, trước khi họ lên đường dẹp loạn (4). Chính vì lý do này, có danh hiệu Hồ Gươm hay là Hồ Hoàn Kiếm, có nghĩa là ‘Nơi Hoàn Trả Thanh Gươm Cứu Nước’ cho Thần Kim Quy.

Mỗi câu chuyện Huyền sử, vừa được kể lại như vậy, cơ hồ một giấc chiêm bao hiện về vào lúc ban đêm, chỉ trình bày cho chúng ta một vài đường nét chấm phá hay là một vài tin tức rất thô thiển và mơ hồ. Dựa vào đó, làm sao chúng ta có thể giải đáp một cách rốt ráo, những thắc mắc chính đáng và quan trọng do những câu chuyện nêu lên?

–   Thứ nhất, Thần Kim Quy là ai, mang ý nghĩa gì, trong lòng Đất Nước Việt Nam xưa và nay? Tại sao Thần xuất hiện dưới hình hài của một con rùa vàng? Nguồn gốc của Thần là nơi đâu?

–   Thứ hai, vai trò của Thần là gì, trong môi trường sinh hoạt hằng ngày của chúng ta?

–   Thứ ba, qua những câu chuyện Huyền sử, được kể lại đó đây về Thần Kim Quy, Tổ Tiên và Cha Ông muốn trao gửi cho chúng ta những sứ điệp quan trọng như thế nào?

Nhằm tháo mở và soi sáng những loại vấn đề như vậy, bài chia sẻ này sẽ lần lượt khảo sát và trình bày những đề mục sau đây:

–   Trong phần Một, Phân Tâm Học của FREUD đề nghị cho chúng ta những chìa khóa nào, có hiệu năng « THUYÊN GIẢI » những giấc mơ, trong đời sống cá nhân của mỗi người, cũng như những câu chuyện Huyền sử có liên hệ đến vận mệnh của cả một dân tộc?

–   Trong phần Hai, làm sao chúng ta có thể xác định nguồn gốc của Thần Kim Quy: Thần đến từ nơi đâu? Thần đi về chỗ nào, sau khi hoàn thành nhiệm vụ của mình? Nói cách khác, Thần Kim Quy là ai, đối với chúng ta? Giữa Thần và những ai mang trong mình dòng máu Rồng Tiên, có những quan hệ như thế nào?

–   Trong phần Ba, chiếc Nỏ Thần hay là Thanh Kiếm của Thần Kim Quy có chức năng và phần vụ nào, trong đời sống hằng ngày của mỗi người,

Phần Một: Phương Pháp THUYÊN GIẢI những câu chuyện Huyền sử, theo Phân Tâm Học (5)

Trong cuộc sống hằng ngày, khi chúng ta có những vấn đề như đau đầu, khó tiêu hóa, nhức mỏi, bần thần trong cơ thể… chúng ta có xu thế coi thường, xem như không có, hay là cố tình dồn nén, dìm xuống trong đáy sâu của quên lãng và vô thức, những tình huống hay là hiện tượng ấy. Chúng ta lầm tưởng rằng: những vấn đề có mặt trong cuộc sống cũng giống như những đám mây đen trên bầu trời, đã tình cờ xuất hiện và rồi sẽ tình cờ biến đi, không chờ đợi, đòi hỏi chúng ta đưa ra những quyết định chuyển hóa thích ứng và sáng suốt. Tình trạng này kéo dài cho đến một hôm sẽ trở nên nghiêm trọng và tràn ngập. Lúc bấy giờ, không còn có một lối giải quyết nào hữu hiệu, khả dĩ giúp chúng ta trở về với tình trạng sức khỏe lúc ban đầu.

Đối với những giấc chiêm bao hay là những câu chuyện Huyền sử, chúng ta cũng thường nuôi dưỡng những thái độ tương tự như vậy. Chúng ta xem đó là những mẩu chuyện hoang đường, bịa đặt, dành cho trẻ con. Vừa nghe xong, chúng ta đã bỏ qua, lãng quên, KHÔNG tôn trọng, lắng nghe, tìm hiểu một cách đứng đắn và nghiêm chỉnh. Cho nên, những vấn đề xảy ra trong lòng cuộc sống, vẫn luôn luôn tồn tại, từ thế hệ này qua thế hệ khác. Chẳng hạn, vì không biết rút tỉa và chắt lọc những bài học làm người, từ câu chuyện Huyền sử Sơn Tinh và Thủy Tinh, cho nên trong « suốt bốn nghìn năm văn hiến », chúng ta mãi hoài làm « gà một nhà bôi mặt đá nhau ». Từ kiếp này qua kiếp nọ, chúng ta luôn luôn vòng vo luẩn quẩn trong khổ đau, hận thù, bạo động, thanh trừng và đổ máu…

Cũng vậy, vì không biết lắng nghe Thần Kim Quy, từ đời An Dương Vương cho đến ngày hôm nay, thuộc thời đại Nghìn Năm Thứ Ba, chúng ta vẫn chưa có kế sách xây dựng một ĐỀN THÁP CỔ LOA kiên cường và bất diệt, trong lòng Đất Nước và trong tâm hồn của mỗi người.

Những con yêu tinh ma quái vẫn còn ngang tàng ngự trị và lan tràn khắp mọi nơi, trên mỗi nẻo đường của Quê Hương, Đất Nước, giống như vào thời nguyên thủy của Lạc Long Quân:

–   Hồ Tinh, với những chiêu bài « yêu nước, thương dân », đang chà đạp và ức hiếp con Hồng cháu Lạc, nhất là những người anh chị em ngày ngày lam lũ trên những cánh đồng của cả ba miền Đất Nước. Hối lộ, tham tàn, mua chức, bán tước… đang len lỏi, nằm vùng, trong mọi quan hệ giữa người với người…

–   Mộc Tinh đang làm cho con cháu chúng ta càng ngày càng trở nên vong thân, vong bản, với những loại văn hóa lai căng, mất gốc, nhập khẩu từ Nga, Tàu, Mỹ và Pháp… trước khi chưa được một ai tìm cách tiêu hóa, hội nhập, biến thành của ăn nuôi sống anh chị em đồng bào.

–   Ngư Tinh đang đầu độc giới trẻ, với những chất liệu xi-đa, xì ke, ma túy, phòng trà, cà-phê ôm… và bao nhiêu tệ hại buôn bán chữ nghĩa, bằng cấp, tiểu luận ra trường, ở mọi cấp bậc trung học cũng như đại học.

–   Sơn Tinh và Thủy Tinh đang phân chia và xếp hàng dân tộc thành hai phe, hai chiến tuyến trắng đen rõ rệt… bằng cách ngày ngày lải nhải những khẩu hiệu nặc mùi hận thù, kỳ thị, bạo động như « Tao hơn, mày thua, Tao yêu Nước, mày bán Nước, Tao chính, mày ngụy… ».

Những khổ đau lai láng, tràn trề ấy phải chăng đang có khả năng làm nên một tiếng còi báo động, để mỗi người trong chúng ta biết « tri chỉ », dừng lại, cùng ngồi lại với nhau, lắng nghe nhau? Phải chăng hôm nay đã là thời điểm thuận lợi, khả dĩ thúc giục chúng ta tìm hiểu những câu chuyện Huyền sử, do Tổ Tiên trối trăn lại, từ những ngày xa xưa? Chúng ta hãy cùng nhau chắt lọc những bài học cho mình và cho đời, cho tiền đồ của Quê Hương và con cháu của chúng ta. Một cách đặc biệt, chúng ta hãy đánh thức và thắp sáng trở lại ngọn đèn lương tri của Dân tộc Việt Nam: Đó là Tiếng Nói của Thần Kim Quy đang có mặt và thầm thì, trong cõi lòng của mỗi người.

Để có khả năng thuyên giải những sứ điệp, mà Thần đã chia sẻ cho chúng ta, nghĩa là tìm ra những đường hướng xây dựng Quê Hương và cuộc đời làm người, chúng ta hãy sử dụng những chìa khóa, mà FREUD đã đề xuất, khi sáng tạo khoa Phân tâm học, vào đầu thế kỷ 20.

Chìa khóa thứ nhất là ngôn ngữ hình tượng, không lời.

Cũng giống như trong giấc chiêm bao, mỗi câu chuyện Huyền sử chỉ trình bày cho chúng ta những hình ảnh tiếp nối với nhau. Theo thuật ngữ của Tâm lý đương đại, đó là một loại ngôn ngữ hình tượng, không lời. Chúng ta chỉ thấy những hình ảnh diễn biến và di động trước mắt chúng ta, cơ hồ từ trên một ngọn đồi nhìn xuống, chúng ta đang chứng kiến trước mắt, quang cảnh một ngày làm việc của người nông dân, giữa một cánh đồng bao la, bát ngát. Hai người cùng đứng nhìn với nhau, có thể ghi nhận hai bức tranh hoàn toàn khác nhau.

Cho nên, khi kể lại một giấc chiêm bao, cũng như khi chia sẻ một câu chuyện Huyền sử, mỗi người trong chúng ta đã « thêm mắm, thêm muối, thêm chanh, thêm đường » có sẵn trong kho tàng tâm hồn và kinh nghiệm riêng tư của mình.

Một cách cụ thể, trong những câu chuyện về Thần Kim Quy, nhiều người đã gán cho Thần những câu nói, những nhận xét, những lời phát biểu, những cách đánh giá, thậm chí những ý đồ và tác phong bạo động… Nhưng thực ra, chính cá nhân chúng ta đề xuất những ý nghĩa chủ quan ấy, tùy vào tâm trạng vui buồn, hạnh phúc hay khổ đau hiện tại của chúng ta, cũng như tùy vào bao nhiêu tin tưởng, tập tục và kinh nghiệm, mà chúng ta đã tiếp thu, ghi nhận suốt thời kỳ thơ ấu.

Nói khác đi, khi kể lại một câu chuyện huyền sử, dù muốn dù không, mỗi người đã bắt đầu THUYÊN GIẢI, nghĩa là gán vào đó những ý nghĩa chủ quan, do chính họ sáng tạo, với bao nhiêu nguyên liệu có sẵn trong cuộc đời làm người. Mỗi hình tượng không bao giờ CHỈ có một ý nghĩa. Cho nên, hình tượng là một loại ngôn ngữ đa năng, đa diện, cưu mang nhiều ý nghĩa cùng một lúc. Ngôn ngữ độc lộ, trái lại, được chúng ta sử dụng trong những quan hệ trao đổi hằng ngày, thường thường chỉ có một ý nghĩa mà thôi.

Trong tinh thần và ý nghĩa ấy, Huyền sử không phải là sở hữu riêng tư của một người. Trái lại, đó là gia bảo của tất cả những ai mang trong mình dòng máu Rồng Tiên. Cho nên, mỗi câu chuyện phải được trình bày, kể ra và chia sẻ với anh chị em từ đời này qua đời khác. Nói khác đi, mỗi câu chuyện Huyền sử bao gồm ba loại câu chuyện khác nhau:

–   câu chuyện của TÔI,

–   câu chuyện của BẠN, là người đang nói chuyện với tôi,

–   và câu chuyện của CHÚNG TA, trong đó có ít nhất hai ba người đang cùng nhau ĐI chung một con đường. Đang cùng nhau chọn lựa và quyết định một thực tế hoặc thực tại sinh sống. Và nhất là đang cùng nhau chia sẻ một mối tình yêu thương và gắn bó. ĐANG LÀM NÊN và TRỰC THUỘC MỘT QUÊ HƯƠNG. Nhờ vào quan hệ gắn bó này, hai chúng ta – Tôi và Bạn – đang THƯƠNG nhau khi gần nhau, và NHỚ nhau khi xa nhau. Chính mối tình thương nhớ này làm cho chúng ta CÓ MẶT với nhau, thậm chí cả những lúc chúng ta VẮNG MẶT. Nói một cách vắn gọn, trong giai đoạn và câu chuyện CHÚNG TA, thực tại và ý nghĩa chủ quan hẹp hòi, một chiều… nhường bước cho ý nghĩa liên chủ quan càng ngày càng mở rộng trong nhiều chiều kích và đường hướng. Cái Tôi ích kỷ, tiểu tiện từ từ biến tan, nhường chỗ, nhường lời cho cái Chúng Ta cao cả và trọng đại, vượt ra ngoài mọi biên cương, bờ cõi của cá nhân chủ nghĩa.

Trong những câu chuyện Huyền sử, những lối nói như Trời và Đại dương, diễn tả con đường thuyên giải mở rộng, vượt ra ngoài mọi biên cương, giới hạn chủ quan ấy. Phải chăng Thần Kim Quy luôn luôn xuất phát từ lòng Đại dương và trở về trong lòng Đại dương, mỗi lần được con cháu Lạc Hồng khấn vái kêu cầu, trong một tình huống khẩn trương và nghiêm trọng? Thêm vào đó, Trời và Đại Dương không phải là những thực tại Ở TRÊN hay là Ở NGOÀI. Những thực tại bao la, kỳ hùng này đang có mặt TRONG tâm hồn của mỗi người Việt Nam, vì họ mang dòng máu Rồng Tiên trong huyết quản.

Chìa khóa thứ hai là ba cơ chế kết cấu và hình thành, có mặt trong mỗi hình tượng của câu chuyện Huyền sử.

Mỗi hình tượng như Rùa Vàng, Đền tháp Cổ Loa… cưu mang và tập trung trong mình, nhiều hình ảnh và ý nghĩa, có khi rất khác biệt và mâu thuẫn với nhau. Đó là cơ chế Cô Đọng. Chẳng hạn, cái MU trên lưng của Thần Kim Quy vừa tượng trưng Bầu Trời luôn luôn có mặt, trong đời sống và quả tim của Thần. Cái MU ấy cũng là dấu hiệu bên ngoài diễn tả hai loại quan hệ trực thuộc và máu mủ giữa con người của Thần và Mẹ Âu Cơ.

Thêm vào đó, khi cưu mang Trời trong quả tim và cuộc đời, giống như Thần Kim Quy, chúng ta sẽ có hai khả năng « làm người »: một là chuyển hóa mọi yêu tinh ma quái đang tung hoành ngang dọc, trong đời sống xúc động và tình cảm của chúng ta. Khả năng thứ hai là xây dựng Ngôi Nhà Tâm linh, giống như Đền Tháp Cổ Loa, trên mỗi chặng đường tiến hóa của Quê Hương. Ngược lại, khi không có Trời, trong lối nhìn và quả tim, chúng ta sẽ làm cho Đất Nước lạc hậu, thoái trào, trở lui với thời kỳ đồ đá. Không cưu mang Trời trong lòng, chúng ta sẽ hối lộ, tham tàn, ức hiếp anh chị em đồng bào. Hay là chúng ta bán đứng Quê Hương cho ngoại bang, để lãnh nhận áo quần, vàng bạc, đô la, chức tước, súng ống, bom đạn, kèm theo những tước hiệu đánh giá như « côn đồ, mất dạy, thiếu lương tâm », từ miệng lưỡi của những người đã thực dân và sử dụng chúng ta như con múa rối, trên chính trường quốc tế.

Cơ chế thứ hai, được sử dụng trong ngôn ngữ hình tượng là DỜI CHỖ. Ý nghĩa có mặt trong hình ảnh này được di chuyển qua chỗ khác, áp dụng cho một hình ảnh khác. Chẳng hạn Vàng là một kim loại quí giá và được trọng dụng, trong cuộc sống hằng ngày của chúng ta. Ngoài ra, màu vàng trong truyền thống văn hóa của Việt Nam là màu của Trời, màu của Ánh Sáng, màu của Nguồn Gốc Sự Sồng, màu của Thời đại Hoàng Kim an bình và thịnh vượng.

Trong tinh thần và lăng kính ấy, Rùa Vàng hay là Thần Kim Quy không phải là ai xa lạ hay là một tin tưởng dị đoan, một hình ảnh hoang tưởng bịa đặt. Đó là hình tượng của một con người đích thực. Đó cũng là một viễn tượng kỳ hùng, một lý tưởng cao đẹp, để kêu mời chúng ta cần vươn tới.

Hẳn thực, khi mỗi người trong chúng ta sống thức tỉnh và ý thức mình đang mang dòng máu của Âu Cơ và Lạc Long Quân, tự khắc chúng ta động viên mình để vươn tới. Chúng ta hóa thân thành Thần Kim Quy, mang Bầu Trời trong tâm hồn và cuộc đời. Đồng thời, chúng ta có khả năng bơi lội trong Dòng Sông Xanh phản chiếu bầu trời, hay là trong lòng Đại Dương bao la, hùng vĩ…

Trong đời sống nội tâm, Trời tượng trưng cho Lối Nhìn của Tư Duy có khả năng soi sáng con đường tìm sự thật, khám phá lẽ phải. Nước, dòng sông hay Đại Dương, trái lại, tượng trưng cho đời sống Xúc Động và Tình Cảm. Chính vì lý do này, khi làm chủ hay là hóa giải được đời sống tình cảm, giống như Lạc Long Quân và Thần Kim Quy, chúng ta có khả năng làm nơi nương tựa an toàn cho anh chị em đồng bào. Trái lại, khi bị tràn ngập và tê liệt trong đời sống xúc động và tình cảm, chính chúng ta sẽ trở thành những ngư tinh, mộc tinh và hồ tinh gây tai ương, hoạn nạn cho mọi người, thậm chí cho những ai mà chúng ta có trách nhiệm nuôi dưỡng, phục vụ, nâng đỡ và hướng dẫn…

Cũng vậy, khi nói đến nỏ thần, hay là thanh kiếm cứu nước, cứu nhà… một cách hình tượng, Huyền sử đã nói đến những khả năng khám phá sự thật và chuyển hóa những khổ đau, trong lòng cuộc đời. Thiếu những kỹ năng này, làm sao chúng ta xây dựng Quê Hương, phục vụ anh chị em đồng bào?

Ngoài hai cơ chế Cô Đọng và Dời Chỗ vừa được trình bày và giải thích, một cơ chế quan trọng thứ ba là Diễn Kịch một cách câm điếc, còn mang tên là Diễn Xuất vô ngôn, không lời. Trong lịch sử của Đất Nước Việt Nam, những thiền sư hay là những nhân vật kỳ lạ mang tên là Ông Trạng thường sử dụng những cách diễn tả không lời này. Họ chỉ làm một bộ điệu hay một tác phong bên ngoài, khi có người đến trình bày một vấn đề hay là thỉnh cầu một lời khuyên bảo.

Chẳng hạn, trên đường chạy trốn, An Dương Vương mở lời khấn vái, cầu Trời. Và Thần Kim Quy đã xuất hiện, đứng đối diện với Nhà Vua, không nói, đưa tay chỉ ra đằng trước, hướng về Nhà Vua.

Tức thì sau đó, trong một tình huống hoảng loạn, lo sợ, nghi kỵ, Nhà vua đã sử dụng bạo động với đứa con gái của mình là Mỵ Châu. Ở giữa tình huống bị khổ đau tràn ngập và khống chế tâm hồn, An Dương Vương cũng như chúng ta, có khuynh hướng phản ứng bốc đồng, máy móc, tự động, tuân theo những sức thúc ép của Vô thức, như tố cáo, tìm nạn nhân, qui lỗi, trừng phạt, loại trừ…

Trong câu chuyện Huyền sử, cũng giống như trong một giấc chiêm bao, những nhân vật chỉ diễn xuất. Sau này, khi viết lại thành văn bản, các tác giả đã đưa ra những lối thuyên giải riêng tư của mình. Và khi giết đứa con thân yêu của mình, An Dương Vương cũng đã thuyên giải cử chỉ của Thần Kim Quy, theo tâm trạng và lối nhìn của một người đang đánh mất tâm hồn an lạc.

Tôi không phải là tên phù thủy toàn năng, để tự cho mình có khả năng xác định ý nghĩa đích thực trong cử chỉ của Thần Kim Quy lúc ấy. Tôi chỉ khiêm cung đưa ra những câu hỏi gợi ý:

–   Việc gì sẽ xảy ra, nếu An Dương Vương thay đổi lộ trình, trở lui Đằng Sau, để đối đầu với Trọng Thủy, đứa con rể của mình, sau phút gặp gỡ với Thần Kim Quy? Chắc hẳn, khi gặp lại được Mỵ Châu trên đường tìm kiếm, Trọng Thủy sẽ không tự tử, như đã xảy ra trong thực tế của câu chuyện.

–   Việc gì sẽ xảy ra, nếu An Dương Vương thuyên giải cử chỉ của Thần Kim Quy, như một lối gợi ý « Hãy nhìn chính mình »? Hẳn thực, khi có một sự việc xảy ra, tất cả những người có mặt trong cuộc, đều đồng trách nhiệm, trong đó có An Dương Vương.

–   Việc gì sẽ xảy ra, nếu chính An Dương Vương đảm nhận trách nhiệm của mình, không lơ là, xao lãng, bỏ bê khả năng thức tỉnh và tin vào kẻ khác, một cách vô điều kiện, để rồi Trọng Thủy đã có cơ hội đánh cắp chiếc nỏ thần?

–   Sau cùng, việc gì sẽ xảy ra, nếu chính khi Thần Kim Quy làm cử điệu « chỉ tay về phía Nhà Vua», thay vì có phản ứng bạo động bốc đồng bột phát, An Dương Vương dừng lại suy nghĩ và hỏi Thần: « Vậy, kính thưa Thần, Trẫm phải làm gì cụ thể? ». Trước đây, Vua đã hỏi Thần một cách cặn kẽ về việc xây đắp Đền Tháp Cổ Loa, và Thần đã trả lời. Hôm nay, trước một tình thế mới, chắc hẳn Thần cũng sẽ trả lời, hướng dẫn, soi sáng… với tất cả tấm lòng, như trước đây.

Tất cả bao nhiêu nhận xét ấy muốn nhấn mạnh một ý nghĩa, do câu chuyện Huyền sử đề xuất: Thần Kim Quy đang có mặt trong tâm hồn của chúng ta. Nếu chúng ta gọi, Thần sẽ xuất hiện. Nếu chúng ta hỏi, Thần sẽ trả lời. Nếu chúng ta trình bày nhu cầu, Thần sẽ đáp ứng. Thần Kim Quy không phải là ai khác, ngoài con người thức tỉnh, có khả năng nhìn thấu suốt, với trăm con mắt, đang hiện diện trong chúng ta, với chúng ta. Thần là Biển. Thần là Trời. Thần là người bạn. Và Thần cũng là Vị Thầy, nếu chúng ta muốn học. Thần là Ánh Sáng, nếu chúng ta muốn tìm con đường giải thoát.

 « Hãy gọi Biển về, lòng ai thao thức sóng vỗ.

 Hãy lắng nghe Trời, khi cuộc đời đầy giông tố.

 Giữa bão táp, hồn Đại Dương vẫn lặng.

 Ngày sương mù, lòng Trời cao cứ nắng ».

Chìa khóa thứ ba là BA CHUẨN MỰC, trong vấn đề thuyên giải những câu chuyện Huyền sử.

Trong nhiều tác phẩm đã được xuất hành, từ năm 1994 (6), như « Chân Trời Mở Rộng », « Đồng Cảm để Đồng Hành »… tôi đã trình bày ba tiêu chuẩn hay là ba chuẩn mực do Phân tâm học đề nghị, nhằm thuyên giải mọi giấc chiêm bao hay là những câu chuyện Huyền sử.

– Chuẩn mực thứ nhất là EROS, Tình Thương Vô Điều Kiện trong lối nhìn về mình và về người khác.

– Chuẩn mực thứ hai là ANANKÉ, Thực tế tất yếu là qui luật, là con đường cần khám phá và noi theo, mỗi khi chúng ta cần đánh giá một hoàn cảnh, một tình huống.

– Chuẩn mực thứ ba là THANATOS, từ bỏ những con đường vong thân vong bản, sau khi đã chọn lựa con đường tất yếu kết dệt bằng Tình Anh Em đồng bào, Tình Nước Tình Non.

Đó là những tiêu chuẩn của câu chuyện CHÚNG TA – mà tôi đã nói tới trên đây – có khả năng nối kết những chủ thể biết ngồi lại với nhau, lắng nghe nhau, tìm hiểu nhau và đồng cảm với nhau, để có thể đồng hành, trên những nẻo đường xuôi ngược của Quê Hương. Nói khác đi, khi đã chọn lựa con đường Yêu Thương, chúng ta không còn lo sợ. Con đường tất yếu của những ai mang dòng máu Rồng Tiên là cùng nhau xây dựng những quan hệ hài hòa và bổ túc « Tôi thắng, Bạn thắng, Chúng Ta cùng thắng với nhau. Chúng ta sinh thành, xây dựng, nuôi dưỡng nhau ». Và khi đã NHẤT TÂM, một lòng như vậy, chúng ta không thể không từ bỏ những tư duy độc lộ, những lối nhìn một chiều, những quan hệ thống trị Tao hơn – Mày thua.

Phần Hai: Thần Kim Quy là ai?

Trong phần vừa qua, tôi đã dựa vào phương pháp Phân Tâm Học, để thuyên giải một số yếu tố trong các câu chuyện Huyền sử. Xuyên qua tất cả những nhận định đã được khám phá và trình bày, Nhân Vật Thần Kim Quy cưu mang trong mình những tư cách và đặc điểm quan trọng sau đây:

–   Thứ nhất: Thần Kim Quy luôn luôn có mặt và xuất hiện, trong mọi tình huống của cuộc đời, mỗi lần chúng ta biết dừng lại, gọi Thần trở về.

–   Thứ hai: Nơi xuất phát của Thần là Dòng Sông Xanh hay là Biển Cả bao la, không bến bờ. Đó cũng là quê hương muôn thuở của Lạc Long Quân, Người Cha của toàn thể con Hồng cháu Lạc. Thần là sứ giả được sai phái, mỗi lần chúng ta lâm nguy, cần cứu giúp.

–   Thứ ba: Mỗi lần đến thăm viếng chúng ta, hành trang Thần mang theo trên mình, là Bầu Trời của Mẹ Âu Cơ. Thần đến, để che chở, đùm bọc. Nhưng đồng thời, Thần cũng có phần vụ soi sáng, chỉ đường, để chúng ta biết mở mắt để nhìn, mở tai để nghe, mở lòng để đón nhận, chuẩn bị hai chân để bước tới, giăng hai tay để đón nhận, tha thứ. Thiếu Bầu Trời trong cuộc đời và tâm hồn, chúng ta sẽ có xu thế thao tác bạo hành và bạo động trên bản thân mình hay là trên cơ thể của người khác. Phải chăng đó là con đường tất yếu – là Ananké – của những ai mang dòng máu Rồng Tiên trong huyết quản, giống như Thần Kim Quy?

–   Thứ bốn: Với một ngôn ngữ không lời như « đưa tay chỉ vào quả tim của An Dương Vương », Thần kêu mời mỗi người trong chúng ta hãy nhìn vào tấm lòng của mình. Đó là nơi xuất phát của mọi chương trình, mọi dự phóng, mọi kế hoạch, mọi toan tính. Trời của Bà Âu Cơ và Đại Dương của Lạc Long Quân đang có mặt ở đó. Cho nên mọi con đường, chúng ta chọn lựa và quyết định, trong bất cứ tình huống nào, không thể không mang tính chất trọng đại và cao cả, bát ngát và bao la.

–   Thứ năm: Thần Kim Quy không mang đến từ ngoài hoặc từ trên, một bài học, một ánh sáng, một con đường hay là một kế sách… Thần chỉ gợi ý, để chúng ta thấy được rằng: chúng ta đang cưu mang Trời và Đại Dương trong tâm hồn. Và khi vun trồng, tưới tẩm Tình Yêu Thương trong lối nhìn cũng như trong đời sống quan hệ và tình cảm, chúng ta sẽ có mọi kỹ năng « biết sống, biết làm và biết cảm ».

« Con là ai? Hạt bụi giữa trời đất, vũ trụ.

 Nhưng đời con gây động chuyển hằng ngàn tinh tú.

Ánh mắt con là cả một bầu trời…

Quả tim con: nguồn suối không cạn vơi.

Con là nước tưới ngày mai tuổi trẻ,

Trồng rừng xanh, phủ hết đất tang thương,

Mang mặt trời chiếu rạng vùng tăm tối,

Hạt Tình Người gieo vãi khắp mười phương. »

–   Thứ sáu: Khi Thần Kim Quy đưa tay chỉ vào An Dương Vương, Thần đang gây ý thức cho Nhà Vua cũng như cho mỗi người chúng ta thấy được rằng: « Mình với Ta, tuy hai mà một, Ta với Mình sao một mà hai ». Nói cách khác, mỗi người trong chúng ta đều là Thần Kim Quy cho người khác, cho mỗi anh chị em đồng bào. Chúng ta hãy đến với họ, như là một Thần Kim Quy, khi họ kêu cứu và cần sự giúp đỡ của chúng ta. Chúng ta cũng là sứ giả « Thanh Giang » mang hơi ấm, ánh sáng và con đường cho mỗi anh chị em đồng bào, trên khắp mọi nẻo đường của quê hương.

Chỗ nào đang có hận thù, chúng ta mang đến yêu thương và hiểu biết.

Chỗ nào đang còn nghèo đói, chúng ta tạo ra công ăn và việc làm.

Chỗ nào đang còn những hiện tượng đàn áp, bốc lột, hối lộ, tham tàn, chúng ta mang đến những quan hệ đồng cảm và đồng hành.

Chỗ nào chỉ có ngôn từ quảng cáo và tuyên truyền láo khoét, chúng ta chia sẻ một miếng cơm, manh áo, giống như Thần Kim Quy đã trao ban « một móng chân ». Nhưng móng chân ấy sẽ trở nên chiếc nỏ thần, có khả năng cứu Nước và độ dân.

Một cách đặc biết, chỗ nào tâm hồn của anh chị em đồng bào còn loạn động, xao xuyến, bất an, bất ổn và bất hạnh, mặc dù của cải vật chất lan tràn, tích tụ và chất đống… hãy cùng với họ « xây đắp Đền Tháp Cổ Loa » hay là một Ngôi Nhà Tình Thương và Hòa Bình, trong tâm hồn và cuộc đời.

Trong tinh thần và lăng kính ấy, không một ai trong chúng ta có thể tự hào rằng: Tôi là Thần Kim Quy, một cách đơn phương độc mã. Chúng ta tất cả, không loại trừ một ai, họp nhau lại, làm nên một Thần Kim Quy duy nhất, « có trăm con mắt để thấy, có trăm đôi tai để lắng nghe, có trăm cánh tay để làm, có trăm đôi chân để bước tới, và nhất là có một trăm quả tim để yêu thương, đùm bọc anh chị em đồng bào ». Chúng ta cùng nhau xây dựng một Quê Hương Thanh Bình và Hạnh Phúc. Chúng ta là những viên gạch xây dựng Đền Tháp Cổ Loa. Và công trình kiến trúc ấy không bao giờ chấm dứt và hoàn thành, bao lâu chúng ta còn mang thân phận và điều kiện làm người.

Phần Ba: Công trình của Thần Kim Quy là Hóa Giải những con Yêu Tinh Ma Quái và xây dựng Đền Tháp Cổ Loa.

Tất cả những câu chuyện Huyền sử có liên hệ xa gần với Thần Kim Quy, đều trao gửi và nhấn mạnh lui tới những sứ điệp cơ bản sau đây:

– Sứ điệp thứ nhất: Tâm hồn và cuộc sống của chúng ta tất cả, không trừ sót một ai, luôn luôn bị những con yêu tinh ma quái rình rập và đe dọa.

Con yêu tinh thứ nhất là Ngư Tinh. Khi bị con yêu tinh này khống chế, tâm hồn chúng ta bị đầu độc. Lúc bấy giờ, mọi quan hệ giữa chúng ta và người anh chị em hai bên cạnh đều bị ô nhiễm. Ngư Tinh là những xúc động có khả năng tàn phá và làm băng hoại tâm hồn an lạc của chúng ta, như giận hờn, lo sợ, buồn chán, thất vọng… Chính những con ngư tinh độc hại này tạo nên khổ đau và tiêu diệt mọi năng lực cũng như sức sống vươn lên của chúng ta.

Con yêu tinh thứ hai là Mộc Tinh. Khi con yêu tinh này tung hoành và trấn ngự nội tâm, chúng ta không còn có một lối nhìn đứng đắn và khách quan về thực tế bao quanh chúng ta. Trong đó có thực tế về người khác và về mọi sự cố xảy ra trong môi trường. Chúng ta có xu thế bóp méo hoặc xuyên tạc tất cả. Chúng ta bắt râu ông nọ đặt cằm bà kia. Có ít, chúng ta xít ra cho nhiều. Chúng ta vơ đũa cả nắm. Chúng ta giận cá, chém thớt…

Con yêu tinh thứ ba là Hồ Tinh. Khi cưu mang con Hô Tinh trong cõi lòng, chúng ta sẽ dùng nhiều chiêu bài khác nhau, để bốc lột, đàn áp anh chị em đồng bào, như hối lộ, độc tài, lạm dụng chức quyền, chạy theo ngoại bang…

Con yêu tinh sau cùng là Sơn Tinh và Thủy Tinh. Chúng nó đội lốt những tư duy độc lộ, những lối nhìn kỳ thị, hận thù và chiến tranh… để làm băng hoại mọi tình tự dân tộc hay là quan hệ giữa anh chị em đồng bào.

Bao lâu chúng ta không học cách hóa giải hay là chuyển biến bốn loại yêu tinh ma quái này, những câu nói như « yêu Nước, xây dựng Quê Hương, phục vụ đồng bào » chỉ là tuyên truyền láo khoét, bịp bợm mà thôi.

– Sứ điệp thứ hai: Xây dựng Đền Tháp Cổ Loa có nghĩa là học hỏi, thực tập, tôi luyện cho bản thân và cuộc đời của mình một khả năng THỨC TỈNH. Với khả năng này, khi ăn, tôi biết tôi đang ăn. Khi làm, tôi biết tôi đang làm. Khi phục vụ đồng bào, tôi biết phục vụ ở đâu, làm gì, cách nào. Tôi không ba hoa chích chòe, nói láo ăn tiền, hay là chỉ phục vụ ở đầu môi chót lưỡi mà thôi.

Có khả năng xây dựng Đền Tháp Cổ Loa, những ai biết trả lời cho mình những câu hỏi thiết yếu và quan trọng sau đây:

– Một: Tôi là ai? Bản sắc của tôi là gì? (WHO).

– Hai: Mục đích tối hậu của đời tôi là gì? Những giá trị soi sáng cuộc đời bao gồm những điểm nào? Giấc mơ trọng đại điều hướng và thúc đẩy tôi can trường bước tới mỗi ngày, hệ tại vào đâu? (WHY).

– Ba: Tôi có những kỹ năng, những cách biết làm nào, để chuyển biến lý tưởng hoặc giấc mơ thành hiện thực? (HOW).

– Bốn: Chính ngày hôm nay tôi thực hiện những động tác cụ thể nào, để khoảng cách giữa lý tưởng và thực tế càng ngày càng thu gọn và rút ngắn lại? (WHAT NEXT).

– Năm: Tôi làm với ai? Ai là bạn đồng hành, trên con đường vươn tới lý tưởng? (With Whom).

Nói một cách vắn gọn, con người Thức Tỉnh, đằng sau những xúc động đang hiện hình trong tâm hồn, nhận biết một cách sáng suốt đâu là nhu cầu cơ bản và chính đáng của mình. Đồng thời, trong quan hệ với tha nhân, con người Tỉnh Thức cũng biết khám phá nhu cầu của người đối diện, để đáp ứng một cách hữu hiệu, tùy vào thực tại của mình. Nhờ vào một lối nhìn sáng suốt và toàn diện như vậy, con người Thức Tỉnh biết mình hiện tại đang ở đâu? Hướng đến đích điểm nào? Sử dụng con đường nào? Khi nào dừng lại? Khi nào chuyển đổi hướng đi?

– Sứ điệp thứ ba: Con người Thức Tỉnh không bao giờ mê muội, mất khả năng cảnh giác và đề phòng. Trong một phú giây lãng quên của chúng ta, bốn con yêu tinh ma quái có thể trở về, phá hoại Ngôi Nhà An Lạc và Đền Tháp Tình Thương. Chiếc Nỏ Thần hay là Thanh Gươm Thức Tỉnh có thể bị đánh mất, bất kỳ vào lúc nào. Thần Kim Quy luôn luôn nhắc nhủ chúng ta về hiểm họa « Mót củi ba năm, thiêu trong một giờ ».

– Sứ điệp sau cùng của Thần Kim Quy: Hận thù, Bạo động là những dấu hiệu rõ ràng và cụ thể nhất, cho phép chúng ta nhận thấy rằng: những ai dấn bước vào con đường này, đối với bản thân mình cũng như đối với anh chị em đồng bào, không còn là con người Thức Tỉnh, theo mẫu thức của Thần Kim Quy. Vì thiếu tỉnh thức, An Dương Vương đã không còn hiểu ngôn ngữ không lời của Thần Kim Quy. Cho nên Nhà Vua đã rút kiếm, giết đứa con gái của mình là Mỵ Châu, và cuối cùng nhảy vào lòng Biển, để tự vẫn.

Hơn ai hết, Nguyễn Trãi đã thấm nhuần bài học ấy. Sau khi Lê Lợi bình định Sơn Hà, chính ông đã can đảm thỉnh nguyện vị lãnh đạo này « dừng lại, biết tri chỉ », cung cấp thuyền bè và lương thực, để những tướng tá, binh lính còn sống sót thuộc quân Minh, có thể trở về quê nhà của mình, trong an bình và tự do. Nguyễn Trãi cũng như Thần Kim Quy không bao giờ chĩa súng bắn vào lưng một người đã bị trói tay, như một vài tướng tá đã làm, vào ngày cuối cùng của Đệ Nhất Cộng Hòa Miền Nam Việt Nam, năm 1963.

Trên đây, tôi đã phân biệt hai công trình của Thân Kim Quy: Một là chuyển biến và hóa giải những xúc động, trước khi chúng nó tràn ngập, tung hoành ngang dọc, làm băng hoại đời sống an lạc. Hai là ngày ngày, không ngừng xây dựng, phát huy và bảo vệ khả năng thức tỉnh, trong đời sống nội tâm. Nhưng thực ra, đó chỉ là hai bộ mặt thuộc về một công trình duy nhất mà thôi.

Hẳn thực, chừng nào chúng ta sống an lạc, lúc bấy giờ chúng ta cũng có khả năng tỉnh thức, biết hóa giải những xúc động tiêu cực, vừa đang thành hình trong nội tâm.

Ngược lại, khi chúng ta biết hóa giải mọi tình huống dao động vừa hiện hình trong nội tâm, trước khi chúng nó dẫn đến tình trạng rối loạn, mất quân bình, đó là dấu hiệu chứng tỏ: chúng ta đang tỉnh thức và an lạc.

Theo lối nói của văn hào Paulo CUELHO, khi thành tựu hai khả năng ấy, chúng ta đang là người LUYỆN VÀNG. Đồng, chì, sắt, thép… đụng đến Nhân Vật Thần Kim Quy có mặt trong chúng ta, tự khắc sẽ biến thành VÀNG nguyên chất. Trong những quan hệ tiếp xúc và trao đổi hằng ngày, nhờ khả năng luyện vàng ấy đang sáng soi và tác động, chúng ta có thể mang đến cho anh chị em đồng bào, những con đường ánh sáng, cũng như một cuộc sống an bình và sung mãn.

Bí chú

1.- Thái Đắc Xuân – 100 Truyện cổ tích Việt Nam – Nhà Xb Hà Nội, 2000 tr. 383 số 82.

2.- nt tr. 386

3.- nt tr 63 số 13

4.- FERAY yveline – Vạn Xuân – dịch giả: Nguyễn Khắc Dương – Nhà Xb Văn Học và Sudestasie 1996, tr. 1000.

5.- Nguyễn Văn Thành – Đường vào Nội Tâm, với Phân Tâm Học – Lausanne, Tình Người 1997.

6.- Nguyễn Văn Thành – Khung Trời Mở Rộng – TN 2000

Đồng Cảm để Đồng Hành – TN 2003

Posted in Uncategorized | Leave a Comment »

Vài nhận xét về Hoàng Chi Phong (05.10.2014)

Posted by Trần Dương on Tháng Tám 31, 2015

Singapore, 05.10.2014

Tuần vừa rồi thấy các kênh thông tin lề trái Việt Nam ca ngợi rất nhiều nhân vật lãnh tụ biểu tình ở Hồng Kông – Joshua Wong (Hoàng Chi Phong), 17 tuổi. Mình có vài nhận xét trái chiều viết tạm ra đây.

Thứ nhất, xét về chữ “tâm” thì Phong có thừa với thành tích tham gia lãnh đạo các phong trào từ rất sớm. Cậu cũng sẵn sàng từ bỏ các cơ hội đi du học vì lo ngại đó sẽ là cái cớ để các đối thủ chính trị loại bỏ cậu.

Thứ hai, xét về chữ “tài”, cậu cũng có những tố chất bẩm sinh với tài năng diễn thuyết.

Vậy có tài và có tâm đã đủ chưa? Hoàn toàn không đủ.

Phong thiếu chữ “tầm”.

Tầm thứ nhất là tầm hiểu biết (knowledge). 17 tuổi thì cho dù có là thiên tài, Phong cũng chỉ là con mèo nhỏ so với những con sư tử đang lãnh đạo với đủ các mưu mẹo chính trị ở Bắc Kinh. Nên nhớ rằng Tập Cận Bình lên tới vị trí hiện tại không phải nhờ con đường “thái tử Đảng” mà cũng phải đánh nhau sứt đầu mẻ trán qua hàng trăm trận đánh chính trị trong nội bộ giới lãnh đạo Trung Quốc. Tập Cận Bình có “tâm” không? Có chứ! Ông sẵn sàng hy sinh gia đình cho sự nghiệp chính trị. Họ Tập có “tài” không? Có chứ! Không có tài thì sao có thể đập phe cánh Thượng Hải và tay chân của Giang Trạch Dân mà cho đến giờ đối thủ chỉ có sợ hãi chứ không dám đấu lại!?

Tầm thứ hai là tầm nhìn (vision). 17 tuổi thì cho dù có là thiên tài mà không đi du học, không đi gặp gỡ những nhân vật quyền lực trên khắp toàn cầu, Phong cũng không thể vượt qua điểm trung bình được. Việt Nam ta có họ Nguyễn cũng đi chu du khắp thế giới, nhưng cái hay không học, lại toàn mang những cái dở về xây dựng đất nước, để rồi sau gần 100 năm, những lỗi hệ thống trầm trọng là hệ quả của phần xây dựng kiến trúc quá tệ từ đầu thế kỷ 20, đến đầu thế kỷ 21 đã trở nên vô phương cứu chữa. Những ai có tâm và có hiểu biết đều chỉ lắc đầu ngao ngán, chờ hệ thống sập hẳn để còn có cơ hội xây dựng lại.

Tầm thứ ba là tầm quan hệ (networking). Phong có mối quan hệ hiểu biết rộng rãi với giới thượng lưu của Hồng Kông hay không(?) – những người mà nếu bạn làm phép phân tích chiến lược các đối tác trong bài toán phức tạp của chính trị Hồng Kông – mới là những người quyết định quỹ đạo của phong trào biểu tình. Một ví dụ tương tự như người đứng sau những sự bất ổn ở Thái Lan không ai khác chính là nhà vua Thái Lan – người luôn giật dây cho giới tướng lĩnh khuấy đảo chính trị.Tầm cuối cùng là tầm ảnh hưởng (influence/power). Phong tới hiện tại chỉ có tầm ảnh hưởng tới giới sinh viên và tầng lớp trung lưu ở Hồng Kông, chứ chưa đủ sức gây ảnh hưởng tới giới tinh hoa (elite) của Hồng Kông.

Nói tóm lại, khi nhận xét về phong trào biểu tình ở Hồng Kông hiện tại với hai yếu tố hành động (right thing) và thời điểm (right time), mình chưa thể chấm cho Phong điểm cao hơn 5/10. Trong khi đó, Tank Man ở Thiên An Môn là người mình rất khâm phục vì lòng dũng cảm và cả sự nắm bắt thời cơ/thời điểm (9.5/10). Sự hy sinh là cần phải có (điều kiện cần) nhưng không phải là điều kiện đủ khi bạn muốn làm một điều gì đó tốt đẹp cho gia đình, cho đất nước hay cao hơn nữa là cho nhân loại.

Posted in Uncategorized | Leave a Comment »

“Voi chín ngà” hướng về biển Đông

Posted by Trần Dương on Tháng Bảy 9, 2015

Trần Dương, Singapore, 07.07.2015

Đặt vấn đề

Trước tình hình tranh chấp lãnh hải trên biển Đông của Việt Nam ngày càng căng thẳng, cùng với việc Trung Quốc đang dần thành công trong kế hoạch “cưỡng bức” chủ quyền lãnh hải bằng những cách như đưa dàn khoan Hải Dương 981 ra thăm dò dầu khí một cách thường niên, hay tăng cường xây dựng và cải tạo các đảo đã chiếm đóng trước đó trên biển Đông, Việt Nam cần phải giành thời gian nhìn lại mình. Sư soi xét lại mình này là cần thiết cho đất nước, nhằm để xây dựng lại toàn bộ hệ thống lý luận, từ đó có thể đưa ra các ý tưởng, quyết sách và hành động một cách hợp lý cho mọi tình huống có thể phát sinh.

Nhìn lại, về đối nội, lý luận “xấu hổ với tiền nhân” của Việt Nam nhằm bảo vệ chủ quyền đã phá sản bởi tính yếu ớt của nó khi chính ngoại trưởng Trung Quốc Vương Nghị vào ngày 27.6.2015 cũng đưa ra lập luận tương tự – “xấu hổ với tổ tiên và con cháu” nếu Trung Quốc để mất chủ quyền ở biển Đông. Về đối ngoại, chính sách ngoại giao đi dây, nhùng nhằng không quyết định được có nên hợp tác chặt chẽ với Hoa Kỳ về quân sự hay không cũng làm cho Việt Nam trở nên thiếu trọng lượng trên bàn đàm phán tranh chấp trong thời gian qua.

Xét về mặt đồng thuận quốc gia, Việt Nam vẫn còn giữ được nhân tâm khi đông đảo nhân dân sẵn sàng hy sinh và đoàn kết để bảo vệ toàn vẹn chủ quyền của đất nước. Tuy nhiên, nhân khí đang ngày càng trở nên mong manh được thể hiện rõ rệt ở một bộ máy chính quyền tham nhũng, đục khoét, có năng lực yếu kém, trong khi nhân tài không ngừng rời bỏ đất nước. Thêm vào đó, nhân sinh quan của Việt Nam về thế giới quốc tế hiện đại cũng có vấn đề sai lệch trầm trọng bởi vẫn khư khư bám theo lối mòn của ý thức hệ Mác-Lê-Hồ Chí Minh. Trong khi đó, với nhân sinh quan linh hoạt và thực dụng “mèo trắng mèo đen”, Trung Quốc đang không ngừng phát triển kinh tế, khoa học-công nghệ và quân sự một cách nhanh chóng, hiện đại và vững chắc, cùng với sự tăng trưởng nhân khí thông qua con đường kinh tế để thu hút nhân tài toàn cầu, ví dụ như trong lĩnh vực công nghệ thông tin và công nghệ điện tử.

Xét về mặt chiến lược quốc gia, đã đến lúc Việt Nam cần từ bỏ mục tiêu sai lầm là “kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội” vì thực tế đang diễn ra là: dân tộc độc lập nhưng lãnh thổ, lãnh hải của đất nước vẫn không ngừng bị mất đi; và chủ nghĩa xã hội không chỉ là một mơ tưởng viển vông, làm cho đất nước trì trệ và không ngừng suy thoái về mọi mặt, mà còn là cơ sở cho sự lệ thuộc về ý thức hệ vào Trung Hoa, dẫn đến tình trạng lệ thuộc về chính trị, kinh tế và cả an ninh, quốc phòng, như hiểm họa bô-xít Tây Nguyên hay tình trạng người dân yêu nước phản đối Trung Quốc bị bắt bớ, đánh đập.

Từ những hiện trạng trên, nhu cầu cần có một hệ thống lý luận chặt chẽ, khoa học và bền vững để xác định lại mục tiêu chiến lược quốc gia cho Việt Nam trong 10-20 năm tới trở nên ngày càng cấp bách.

Ngược dòng thời gian, Lữ Phương (1998) [1] đã tìm cách xây dựng một cơ sở lý luận mang tên chủ nghĩa dân tộc Việt Nam nhằm giải thích cho những bài toán hiện đại mà dân tộc phải đối diện, nhưng đã thất bại vì chỉ bao hàm chủ nghĩa cộng sản và Nho giáo, trong khi không xét đến sự ảnh hưởng của Phật giáo và các đạo giáo dân gian. Lùi lại tới giữa thế kỷ 20, chúng ta có chủ nghĩa Mác – Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh nhưng, như tác giả Nguyễn Đình Cống [2] nhận xét: “mỗi lần Đảng cố tình vận dụng Chủ nghĩa Mác – Lênin như cải cách ruộng đất, cải tạo tư sản, hợp tác hóa nông nghiệp, kinh tế quốc doanh, cải tạo tư tưởng, chuyên chính vô sản là mỗi lần thất bại, đẩy dân tộc, đẩy nền kinh tế và đạo đức vào những thảm họa”. Cùng trong thời gian này, chế độ Việt Nam cộng hòa ở miền Nam có xây dựng học thuyết chủ nghĩa quốc gia, nhưng học thuyết này đã sụp đổ cùng với chế độ sinh ra nó, trong đó không thể không nhắc lại một nhược điểm cố hữu giống với người anh em ở miền Bắc là “sử dụng một cách bừa bãi những ý niệm văn hóa tây phương hậu thời để giải thích và tìm hiểu Dân Tộc Tính của Việt Nam” [3]. Lùi xa hơn nữa, chúng ta có Nho giáo được sử dụng rộng rãi dưới thời Hậu Lê và nhà Nguyễn; và trước đó là cơ sở lý luận dựa trên Phật giáo của thời Lý – Trần.

Bài viết này đưa ra đề xuất là hệ thống lý luận mới cho Việt Nam, dù có thể có tên gọi khác nhau như chủ nghĩa dân tộc Việt Nam, Việt Nho, Minh triết Việt hay là gì đi nữa, nên được xây dựng lại một cách có chọn lọc trên cơ sở văn hiến của tổ tiên Lạc Việt truyền từ thời các vua Hùng đã tạo dựng và phát triển vững bền nhà nước Văn Lang. Phần tiếp theo của bài viết nhắc lại những giải thích về “voi chín ngà”, một lời truyền dạy của tổ tiên và cũng là một cơ sở lý thuyết vận động của nền văn hiến Lạc Việt.

Lý luận “Voi Chín Ngà”

Theo lịch sử Việt Nam, đất nước Việt Nam đã trải qua hơn 4,000 năm thăng trầm trong công cuộc xây dựng và phát triển, khởi nguồn từ nhà nước Văn Lang với 18 (=9×2) thời Hùng Vương của người Lạc Việt, cho đến Nhà nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam hiện nay. Trong những thăng trầm đó, lãnh thổ và lãnh hải địa lý của quốc gia đã không ngừng biến đổi, có khi thu hẹp bởi sự xâm lược đến từ phương Bắc, có khi mở rộng nhờ xâm lược về phía nam, và ranh giới địa lý đã trở nên ổn định như hiện nay từ thế kỷ 18 (=9×2) (năm 1757). Trên vùng ranh giới địa lý đó, hiện nay đang có 54 (=9×6) dân tộc cùng nhau sinh sống, trong đó dân tộc Kinh chiếm đa số (xấp xỉ 86%), và có thể chia thành 8 nhóm theo ngôn ngữ là nhóm Việt – Mường, nhóm Tày – Thái, nhóm Môn – Khmer, nhóm Mông – Dao, nhóm Kadai, nhóm Nam Đảo, nhóm Hán và nhóm Tạng.

Theo tài liệu “Thời Hùng Vương qua truyền thuyết và huyền thoại” [4] của tác giả Nguyễn Vũ Tuấn Anh, trải qua 2622 năm từ 2879 tr.CN đến 258 tr.CN, “các thời vua Hùng nối tiếp nhau trị vì [nhà nước] Văn Lang đã coi Âm Dương Ngũ hành và những tri thức về thiên văn được phát hiện từ căn bản của Lạc thư – Hà đồ như là một hệ tư tưởng chính thống, làm chủ đạo cho việc điều hành ổn định và phát triển xã hội”. Dựa trên mục tiêu cân bằng và điều hòa Âm Dương được thể hiện qua tri thức Lạc thư-Hà đồ, “chính sự dùng lối thắt nút” đã được các vua Hùng sử dụng rộng rãi và lâu dài trong thời kỳ này nhằm điều hành đất nước thuận theo quy luật vận động của vũ trụ. Kết tinh của tri thức văn hiến Lạc Việt có thể được gói gọn trong Hà đồ Cửu cung và Hồng phạm Cửu trù, được hình tượng hóa bởi “voi chín ngà, gà chín cựa, ngựa chín hồng mao”:

– Voi chín ngà: là hình tượng của 5 dạng tồn tại ban đầu của Vũ trụ theo quan niệm của thuyết Âm Dương Ngũ hành là: Kim, Mộc, Thuỷ, Hoả, Thổ và 4 trạng thái tương tác của nó (Tứ tượng) là: Tương sinh, Tương khắc, Tương thừa, và Tương vũ. Tổng cộng là 9 (cửu). Đây là sự cấu thành căn bản của hệ tư tưởng vũ trụ quan thời Hùng, tư tưởng chủ đạo xuyên suốt tất cả mọi giá trị tinh thần trong xã hội Văn Lang.

– Gà chín cựa: tức Kê nghi (nghĩa đen là “Hỏi gà”) là trù thứ 9 trong Hà đồ Cửu cung. Giá trị của Kê nghi là ở những phương pháp bói toán, khả năng dự báo trong mọi lĩnh vực. Kê nghi còn được lưu truyền trong dân gian với danh xưng “Cô 9”, Thánh tổ ngành bói toán của Việt tộc theo truyền thuyết về Đạo Tứ phủ của Việt Nam.

– Ngựa chín hồng mao: là hình tượng của Cửu trù Hồng phạm, những giá trị của một nền chính trị nhân bản trong thế giới cổ đại, đã được nhắc tới rất nhiều trong các trước tác của Nho giáo.
Một câu hỏi đặt ra là các quy luật vận động được tổng kết bởi tổ tiên có còn phù hợp với những biến động hiện nay hay không? Vì vậy, chúng ta hãy thử cùng kiểm nghiệm lại lý thuyết Hà đồ Cửu cung với hai con số quan trọng là số 15 và số 9 trên cơ sở đối chiếu các sự kiện lịch sử quan trọng của đất nước trong thế kỷ 20 và 21.

Quy luật số 15

  • Năm 1930: Đảng Cộng sản Việt Nam thành lập. Trần Phú giữ chức Tổng bí thư đầu tiên.
  • Năm 1945: Nước Việt Nam dân chủ cộng hòa ra đời sau khi cướp chính quyền từ tay chính phủ Trần Trọng Kim. Hồ Chí Minh giữ cương vị Chủ tịch nước.
  • Năm 1960: Lê Duẩn lên nắm chức Bí thư thứ nhất của Đảng Cộng sản Việt Nam. Hồ Chí Minh mất thực quyền.
  • Năm 1975: Chế độ Việt Nam cộng hòa ở miền Nam sụp đổ. Hai miền Bắc – Nam Việt Nam thống nhất.
  • Năm 1990: Hội nghị Thành Đô diễn ra với vai trò của Tổng bí thư Nguyễn Văn Linh trong việc xác lập giai đoạn lệ thuộc mới của Việt Nam vào Trung Quốc.
  • Năm 2005: Năm được xem là “bắt đầu hình thành những đảng chính trị mới và những tổ chức mới” [5] ở Việt Nam, nổi bật trong số đó là Khối 8406 thành lập sau đó vào ngày 8/4/2006, và Tập hợp Thanh niên Dân chủ thành lập vào ngày 8/5/2006.
  • Năm 2020: Đây là thời hạn mà Việt Nam đã đặt ra là sẽ hoàn thành mục tiêu trở thành một nước công nghiệp hiện đại.

Quy luật số 9

  • Năm 1954: Chiến dịch Điện Biên Phủ kết thúc thắng lợi.
  • Năm 1963: Đảo chính lật đổ Ngô Đình Diệm ở miền Nam mở ra thời kỳ chính trị thiếu đoàn kết của chế độ Việt Nam cộng hòa tiếp đó.
  • Năm 1972 (tháng 1/1973): Hiệp định Paris được ký, buộc Hoa Kỳ phải rút quân đội ra khỏi Việt Nam.
  • Năm 1981: Kết thúc cuộc chiến tranh biên giới Việt – Trung lần thứ nhất (1979-1981).
  • Năm 1990: Hội nghị Thành Đô diễn ra.
  • Năm 1999: Hiệp ước biên giới trên đất liền giữa Việt Nam – Trung Quốc được ký kết, và được cho là đã để mất một phần Ải Nam quan về tay Trung Quốc.
  • Năm 2008: Mở rộng địa giới hành chính Thủ đô với 29 đơn vị hành chính, bao gồm toàn bộ Hà Nội cũ, tỉnh Hà Tây, huyện Mê Linh (tỉnh Vĩnh Phúc) và 4 xã của huyện Lương Sơn (tỉnh Hòa Bình). Từ đêm 31/10 đến sáng 3/11 năm 2008, tại Hà Nội đã có mưa bất thường, lớn nhất trong vòng 24 năm, và gây ngập lụt nhiều ngày trên diện rộng.
  • Năm 2017: Chưa rõ.

Tạm kết

Trên cơ sở Hà đồ Cửu cung, chúng ta có thể tạm kết luận rằng năm 2017 và 2020 sẽ là những mốc thời gian diễn ra những sự kiện quan trọng đối với đất nước – dân tộc, không rõ sẽ là tích cực hay là tiêu cực (?) (Đây là câu hỏi đặt ra cho các nhà Lý học Việt Nam và các chuyên gia về Minh triết Việt). Năm 2015 và 2016 sẽ chỉ là những năm bản lề để tích súc lượng, tạo tiền đề cho sự thay đổi về chất.

THAM KHẢO

[1] L. Phương, “Ba bài viết về Việt Nam “đổi mới” 1. Chủ nghĩa dân tộc Việt Nam,” Viet-studies (http://www.viet-studies.info/kinhte/LuPhuong_ChuNghiaDanTocVietNam.htm), 1998.
[2] N. Đ. Cống, “Lời nguyền xuyên thế kỷ,” Bauxite Việt Nam (http://www.boxitvn.net/bai/35520), 30.06.2015.
[3] L. V. Thường, “Trường Hợp «Tinh Hoa Ý Thức Hệ Việt Nho» của GS Trần Đoàn,” (http://sachhiem.net/DOITHOAI/LeVietThuong1.php), 2010.
[4] N. V. T. Anh, Thời Hùng Vương qua truyền thuyết và huyền thoại, Trung tâm nghiên cứu Lý học Đông Phương – NXB Văn hóa thông tin, 2008.
[5] A. L. Vuving, “Bốn phe phái trong nền chính trị Việt Nam,” (http://www.boxitvn.net/bai/35645), 2015.

Posted in Uncategorized | Leave a Comment »

Ngoại giao và hợp tác quốc phòng như thế nào?

Posted by Trần Dương on Tháng Mười 18, 2010

1. Những cảnh báo

Sấm ký của trạng trình Nguyễn Bỉnh Khiêm

Blogger ductruyen_dang vừa gửi cho Phamvietdaonv một số ý kiến của mình dẫn giải về một đoạn trong Sấm ký của Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm. Theo dẫn giải của ductruyen_dang thì đoạn sấm ký này là lời tiên tri về cuộc chiến tranh chấp trên Biển Đông, cuộc chiến sẽ khởi đầu vào năm Canh Dần -Tân Mão và cuối cùng Việt Nam sẽ đại thắng nhờ có Thiên tử xuất hiện!

Cảm ơn Blogger ductruyen_dang, xin giới thiệu bà con đoạn sấm ký này, nếu bà con nào có dẫn giải khác, Blog Phamvietdaonv sẵn sàng đưa lên để trao đổi về chủ đề nhạy cảm này…

Cách đây hơn 500 năm Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm đã nói đến trận đánh ở biển Đông. Sau đây là nguyên văn đoạn viết. Nếu không tin, xin tìm cuốn” Trạng Trình NBK” xuất bản 1992 NXB Văn hóa:

1/ Phú quý Hồng trần mộng, bần cùng bạch phát sinh; Hoa thôn đa khuyển phệ
(Hoa thôn: làng người Hoa, đa khuyển phệ: có nhiều tiếng chó sủa)

2/ Mục giã dục nhân canh
(những người trông thấy giục người ra canh giữ)

3/ Bắc hữu kim thành tráng, Nam hữu Ngọc bích thành
(miền bắc có thành vàng (hoàng-kim) hoành tráng, miền nam có thành Ngọc bích)

4/ Phân phân Tùng bách khởi, nhiễu nhiễu xuất đông chinh
(giữa hai năm tùng bách (Canh Dần-Tân Mão) sẽ khởi binh, trùng trùng, điệp điệp xuất quân ra biển đông chinh chiến…)

5/ Bảo giang thiên tử xuất, bất chiến tự nhiên thành (vùng Bảo giang sẽ xuất hiện Thiên tử, không cần phải chinh chiến mà thành công)…

6/ Rồi ra mới biết thánh minh, mừng đời được lúc hiển vinh reo hò….

Nếu cụ Trạng Trình đúng thì thật may mắn cho xã tắc !

Nhân đây Blog Phamvietdaonv xin góp thêm một vài kiến giải:

Về câu 1: “Phú quý hồng trần mộng”
Có thể hiểu: Do Biển Đông có nhiều dầu, Trung Quốc lại đang “bần cùng bạch phát sinh”, nghĩa là đang thiếu nhiên liệu trầm trọng do kinh tế phát triển nóng nên phải mơ độc chiếm Biển Đông; Còn câu: “Hoa thôn đa khuyển phệ” thì quá rõ. Hiện có rất nhiều tướng lĩnh Trung Quốc thuộc phái “khuyển phệ“ đang chủ trương phái động đánh Việt Nam để độc chiếm Biển Đông; trong đó ý kiến của Lý Hồng Mai trên Hoàn Cầu gần đây là một trong những “khuyển phệ” tiêu biểu… Lời tiên tri của cụ Trạng Trình là chính xác…

Về câu thứ 2: “Mục giã dục nhân canh” (những người trông thấy giục người ra canh giữ)
Câu này ứng với đám blogger đang thường xuyên viết bài thúc giục chính phủ không được hèn hạ tìm cách thỏa hiệp, đầu hàng Trung Quốc mà phái có biện pháp cứng rắn bảo vệ chủ quyền quốc gia, lãnh hải, lãnh thổ…

Về câu thứ 3: “Bắc hữu kim thành tráng, Nam hữu Ngọc bích thành” (miền bắc có thành vàng (hoàng-kim) hoành tráng, miền nam có thành Ngọc bích)…

Có thể cụ Trạng Trình đã tiên đoán miền bắc sẽ có máy bay SU 34 hoặc máy bay HU 1A do Mỹ trang bị để trông giữ biển; miền nam có Tàu ngầm Kilo của Nga, hay Hạm đội của Mỹ giúp canh chừng…

Về câu thứ 4: “Phân phân Tùng bách khởi, nhiễu nhiễu xuất đông chinh”
(phân phân tùng bách khởi: giữa hai năm tùng bách (Canh Dần-Tân Mão) sẽ khởi binh,
nhiễu nhiễu xuất đông chinh: trùng trùng, điệp điệp xuất quân ra biển đông chinh chiến…);

Câu này đang chờ xem có ứng nghiệm: sẽ khởi binh, nhiễu nhiễu xuất đông chinh; trùng trùng, điệp điệp xuất quân ra biển đông chinh chiến trong năm Canh Dần, Tân Mão ( 2010-2011)?

Về câu thứ 5: “Bảo giang thiên tử xuất, bất chiến tự nhiên thành” (vùng Bảo giang sẽ xuất hiện Thiên tử, không cần phải chinh chiến, mà thành công)…

Có thể tiên đoán: Thiên tử ở đây sẽ là Mỹ sẽ xuất hiện đóng vai trò trọng tài để phân chia Biển Đông không để Trung Quốc bắt nạt Việt Nam.


Dự báo của nhóm Trần Đông Chấn

Dự báo của nhà ngoại giao Dương Danh Dy

Mặc Lâm: Ông có nghĩ rằng động thái mua võ khí tối tân của Việt Nam có làm cho Trung Quốc đi đến những quyết định quân sự mà từ lâu họ vẫn âm thầm chờ đợi hay không?

Ông Dương Danh Dy: Tôi nghĩ rằng trong lúc này phía Trung Quốc họ chưa làm được cái gì lớn đâu. Cho đến tháng 10 sang năm Trung Quốc tổ chức triển lãm quốc tế ở Thượng Hải, cho nên trong giai đoạn này thì Trung Quốc chưa dám làm điều gì lớn ở Biển Đông đâu.

Nhưng mà sau thời điểm 2010 trở đi thì chưa biết họ làm cái gì đâu. Họ kinh khủng lắm chứ. Không phải là đùa với người láng giềng này được đâu.

2. Các hành động

Việt Nam không hợp tác quân sự với nước ngoài tại Cam Ranh

Bộ Ngoại giao Việt Nam khẳng định Việt Nam sẽ không hợp tác với nước ngoài để sử dụng cảng Cam Ranh vào mục đích quân sự.

Việt Nam tăng cường hợp tác quân sự với Úc, Ấn Độ, Hàn Quốc. Trong đó, đáng chú ý là việc tăng cường hợp tác quân sự đối với Ấn Độ:

http://www.viet.rfi.fr/viet-nam/20101016-viet-nam-va-an-do-tang-cuong-hop-tac-quan-su-de-doi-pho-trung-quoc

Điều đáng chú ý trong hiệp định hợp tác vừa qua, đó là đổi lại việc New Delhi giúp hiện đại hóa quân đội và đặc biệt là Hải quân Việt Nam, Hà Nội sẽ giúp sửa chữa, bảo trì và cung cấp nhiên liệu cho các chiến hạm của Hải quân Ấn Độ. Tuy thông cáo chính thức không nói là cảng nào sẽ được sử dụng, nhưng ai cũng nghĩ ngay đến cảng Cam Ranh, từng là căn cứ quân sự của Mỹ và sau đó là của Nga.

Cách đây vài ngày, trước những nguồn tin nói rằng Hải quân Nga muốn sử dụng lại cảng Cam Ranh, Việt Nam đã tuyên bố “ chủ trương không hợp tác với nước ngoài để sử dụng Cam Ranh vào mục đích quân sự và sẽ khai thác tiềm năng của khu vực Cam Ranh phục vụ cho công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.” Nhưng với đề nghị nói trên, coi như Việt Nam sẽ để cho Hải quân Ấn Độ sử dụng cảng Cam Ranh.

Nhưng ngoài Cam Ranh còn có cảng Hải Phòng, cũng có vị trí chiến lược không kém và có thể nói được giới quân sự Ấn Độ quan tâm nhiều hơn, vì nó nằm gần đảo Hải Nam, nơi mà Trung Quốc đã xây một căn cứ Hải quân lớn nhất trong vùng, bao gồm cả một căn cứ dưới biển để tàu ngầm Trung Quốc có thể lẩn tránh sự truy tìm của các vệ tinh do thám. Nói chung, việc sử dụng các cảng của Việt Nam sẽ giúp Ấn Độ có thêm lợi thế trong khu vực Đông Nam Á, đặc biệt là khu vực Biển Đông.

Vậy là đường lối hợp tác quốc phòng sẽ như thế nào đây? Sử dụng cảng Cam Ranh vào mục đích quân sự hay không sử dụng?

Posted in Uncategorized | Leave a Comment »

Bới lông tìm vết

Posted by Trần Dương on Tháng Mười 18, 2010

Đã hơn 1 tuần sau khi Đại lễ Thăng Long 1000 năm kết thúc, đây đó có những bài phê bình nhẹ nhàng về công tác tổ chức cũng như những gì Hà Nội còn chưa tốt (nhiều rác, bán hàng chặt chém, móc túi, tắc đường), và cũng có những bài viết về “yêu và hiểu, vẫn thấy Hà Nội đẹp”. Theo dõi những phát biểu của các nhà lãnh đạo Hà Nội trên báo chí trong thời gian qua, xin mạn phép “bới lông tìm vết” để có 1 vài nhận xét về sự hớ hênh trong các phát biểu này.

1. Hớ hênh đầu tiên là khẳng định của ông Hồ Quang Lợi, Trưởng ban Tuyên giáo Thành ủy, Trưởng Tiểu ban Tuyên truyền 1000 năm Thăng Long – Hà Nội về những thông tin xung quanh vụ nổ pháo hoa bên ngoài SVĐ Mỹ Đình trưa 6/10, đăng trên Bee.net ngày 15/10/2010:
Loại bỏ tin đồn thất thiệt về vụ nổ pháo hoa

“Hoàn toàn không có chuyện hàng chục người chết do nổ pháo hoa, tôi khẳng định là chỉ có 4 người chết, trong đó có 3 chuyên gia nước ngoài, 3 người bị thương hiện đã bình phục và ra viện…”.

Có thể việc phóng viên trích dẫn câu khẳng định của ông H.Q.L khiến nội dung không còn được truyền tải đúng 100%. Nhưng vì thế, khi xét riêng phần trích dẫn, thì khẳng định của ông H.Q.L có 2 điểm không tốt:

– Điểm thứ nhất, khẳng định của ông H.Q.L thay vì nhận 1 phần trách nhiệm khi để xảy ra sự cố tai nạn chết người, lại chỉ chú tâm vào phủ nhận thiệt hại “không có chuyện hàng chục người chết” (theo tin đồn) [nhưng vẫn có tới 4 người chết].

– Điểm thứ hai, ông H.Q.L chỉ rõ hơn rằng trong 4 người chết thì 3 người là người nước ngoài, còn “3 người bị thương” là người trong nước thì “đã bình phục và ra viện”. Như vậy, sự ám chỉ ở đây là chỉ có 1 người trong nước thiệt mạng. Sự ám chỉ này cho thấy việc 3 người nước ngoài thiệt mạng là không được coi trọng. Vì thế, nếu người Singapore hay người Đức, đồng bào của 3 chuyên gia nước ngoài thiệt mạng trong vụ tai nạn, mà đọc được câu nói đó của ông H.Q.L, chắc chắn sẽ rất không hài lòng.

Nếu khôn ngoan và khéo léo hơn, ông H.Q.L phải nên phát biểu là:

“Chúng tôi rất lấy làm tiếc khi trong vụ tai nạn đã có 4 người thiệt mạng, trong đó có 3 chuyên gia nước ngoài. 3 người bị thương trong vụ tai nạn đã rất may mắn. Họ hiện đã bình phục và ra viện… Ngoài ra, những tin đồn đại về số người thương vong lên đến hàng chục người là hoàn toàn sai…”

Tuy nhiên, văn hóa của người Việt vốn không quen với việc lãnh đạo phải nhận trách nhiệm khi có tai nạn, sự cố cho lắm, nên cũng không có mấy ai để ý đến hớ hênh của phát biểu trên.

2. Hớ hênh thứ hai là phát biểu của Chủ tịch UBND Hà Nội Nguyễn Thế Thảo vào chiều 15/10: ‘Đại lễ nghìn năm đã đạt mục tiêu hoành tráng’. Đầy đủ hơn:

“Nếu ai đó nói rằng công tác tổ chức đại lễ còn hạn chế thì đó là do nhận thức chưa tốt. Đại lễ đã thành công, đạt mục tiêu trang trọng, hoàng tráng, ấn tượng”, Chủ tịch UBND Hà Nội Nguyễn Thế Thảo bày tỏ quan điểm chiều 15/10.

Câu đầu tiên làm tôi nhớ tới ca sĩ “da nâu” (hay da trâu?) Phi Thanh Vân. Khi ca khúc 4 câu ngắn ngủn của cô ca sĩ này bị khán giả chê, cô đã nói đại ý rằng đó là do khán giả nhận thức chưa tốt về âm nhạc.

Câu thứ hai trong phát biểu của Chủ tịch UBND Hà Nội sẽ không có điểm gì đáng chê nếu ông bỏ đi từ “hoành tráng”, để thành: “Đại lễ đã thành công, đạt mục tiêu trang trọng, ấn tượng.”

Tại sao lại là đại lễ “hoành tráng” trong khi đại lũ đang diễn ra ở khúc ruột miền Trung. Và như để đạt cùng mục tiêu hoành tráng với đại lễ ở Hà Nội, đại lũ năm nay đã trở thành lũ kép, lũ chồng lũ với lượng mưa kỷ lục, khiến người dân miền Trung càng thêm điêu đứng.

Nếu Hà Nội thật tâm hủy bắn pháo hoa để lo lắng cho miền Trung, Hà Nội sẽ không phải băn khoăn việc tổ chức đại lễ đã đủ “hoành tráng” hay chưa.

Dù sao, quan trọng hơn những hớ hênh nhỏ trong các phát biểu, chỉ mong rằng trong tương lai, nếu phải tổ chức những lễ hội lớn khác, Hà Nội sẽ hiểu rõ 1 điều đơn giản là người đông mà các nhà máy, công sở, trường học không được nghỉ thì chắc chắn sẽ tắc đường. Hy vọng khi đó, Hà Nội sẽ có những quyết định đúng đắn hơn trong khâu tổ chức.

Posted in Uncategorized | Leave a Comment »

Khi Hà Nội chưa là Thăng Long

Posted by Trần Dương on Tháng Mười 18, 2010

Vậy là kể từ sau quyết định mở rộng thủ đô Hà Nội gây bất mãn cho rất nhiều người dân thủ đô, chúng ta đã đạt được nhiều thành tích mang tính “chưa từng có trong lịch sử”.

Năm 2008, Hà Nội hứng chịu cơn mưa gây ngập lụt chưa từng có, để đến nỗi “phố cũng như sông”.

Năm 2009, chúng ta hứng chịu 1 đợt hạn hán đến nỗi sông Hồng trơ đáy ở mức kỷ lục.

Và năm nay, năm 2010, miền Trung ruột thịt hứng chịu 1 đợt thiên tai lũ chồng lũ chưa từng có trong 100 năm.

Đáng mỉa mai là những đợt thiên tai mang tầm vóc lịch sử này đều đã được cảnh báo từ tháng 6 năm 2008. Hãy xem lại những cảnh báo đó trong bài “Phong thủy… tán dóc”:
http://www.thongluan.org/vn/modules.php?name=News&file=article&sid=2862

Cảnh báo Hà Nội sẽ có “đường sá thành sông cho cá lội tung tăng” đã ứng nghiệm vào tháng 11-2008:

Mở rộng Hà Nội hết cả Hà Tây , mà theo ông Tán Dóc thì phải tựa vào dãy núi Ba Vì- nơi cao nhất, do vậy việc chọn Sơn Tinh làm thành hoàng Hà Nội là chắc chắn, nếu không tự tiện áp đặt được thì theo kiểu bầu bán như hiện nay chắc chắn Sơn Tinh cũng trúng. Vì ngoài ông ra còn 4 vị trấn thành Hà Nội cũ là Cao Sơn – là em họ của ông, quân lính của ông lúc trước, Linh Lang là một hoàng tử của Vua Lý Thái Tông làm sao dám trái lời hai anh em họ nhà ông – những người khai quốc công thần từ thời Quốc tổ Lạc Long Quân-Âu Cơ và thời Hùng Vương. Vậy là Thánh Tản đã có 2 phiếu, ông Long Đỗ nếu có Huyền Thiên Trấn Vũ giúp thì có đấu cũng không lật lại được, mà xem về hoàn cảnh bây giờ người ta phù thịnh chứ ai phù suy nên ông Huyền Thiên ấy ngả hẳn sang phe Hà Tây thì thấy rõ – trước ông giúp Hùng Vương, sau lại giúp An Dương Vương nên nay có cơ hội chiêu hồi sao lại nỡ bỏ cho được?. Với lại khi đi bỏ phiếu vì lòng tự trọng chả lẽ ông Long Đỗ lại bỏ phiếu cho mình ?

Ông Long Đỗ mất chức Thành Hoàng Hà Nội 100% rồi, mà chức này ông có từ gần 1000 năm, nay thiếu mấy trăm ngày cho tròn mà lại bị phế thì không ức sao được! Ông chắc cũng khó mà yên tâm cho được, bên ngoài bằng mặt, bên trong không bằng lòng, Thần Thuỷ Tinh thì đã từ lâu ghét Sơn Tinh đến độ năm nào cũng dàn trận thử sức nhau, phen này chắc hẳn sẽ làm đôi câu đối, ít quà mà gặp gỡ ông chăng, nhỡ đâu ông kết hợp với Thuỷ Tinh thì có vấn đề lớn, Hà Thành phen này đường sá thành sông cho cá lội tung tăng là hết sẩy!

Cảnh báo thiên tai sẽ diễn ra liên miên:

Một bài học qua thời Hùng Vương mà người đời nay luôn ghi nhớ, đó là triều đại Hồng Bàng chỉ có mười tám đời Hùng Vương. Nơi Đền Hùng có đủ 99 con Voi chầu (1 con quay ngược bị chặt đầu) là nơi đắc địa, vậy mà đời thứ 18 lại tham, muốn thêm 3 ngọn núi nữa chăng? Đến đời thứ 18, Vua Hùng cũng thấy khí không còn vượng nữa nên muốn duy trì thêm thời gian trị vì, và điều tốt nhất là chọn lựa một nơi để mà dựa vào (hay tựa vào), lúc đó chỉ còn cách tìm người tài ra giúp và thần Tản Viên (Ba Vì- Sơn Tinh) là lựa chọn số một và qua một cuộc thi kén rể, Vua Hùng 18 đã có người con rể vừa ý mình. Nhưng không biết ngài lựa thế nào mà lại làm cho người khác giận thêm, mỗi năm gây nên thảm cảnh cho dân lành, nên ước mong dân yên bình để có đời thứ 19 đã không thực hiện được, đấy cũng chính là một bước đi sai lầm làm chấm dứt triều đại Hồng Bàng. Lòng dân không yên, thiên tai liên miên, lại thêm phần đói khổ nên Thục Phán (An Dương Vương) nổi lên, đánh từ Đông Bắc sang và lập nước Văn Lang thay thế cho Hồng Bàng.

Quay lại thời điểm năm 2008, chúng ta vốn đã có thể có 1 bước đi sáng suốt nếu nghe theo kiến nghị của Đại tướng Võ Nguyên Giáp lấy lại tên Thăng Long cho Hà Nội. Nhưng thay vào đó, với lòng tham che mờ mắt, những người lãnh đạo thủ đô vốn từ những tỉnh không phải là Hà Nội đã bước đi theo hướng ngược lại, phá vỡ cục thế vốn đã có từ hàng nghìn năm của Hà Nội.

Giá như những ý kiến ở đây được lắng nghe, được công bố và đem ra trao đổi, thảo luận rộng rãi, Hà Nội – Thăng Long chắc chắn sẽ có được 1 niềm vui trọn vẹn nhân dịp kỷ niệm 1000 năm tuổi, hơn là để ông Long Đỗ phải ngồi khóc thầm 1 mình:
http://nguyenxuandien.blogspot.com/2009/12/e-xuat-oi-ten-ha-noi-tro-ve-ten-cu.html

Posted in Uncategorized | Leave a Comment »

Đạt mục tiêu hoành tráng

Posted by Trần Dương on Tháng Mười 17, 2010

1.

http://bee.net.vn/channel/1987/201010/Loai-bo-tin-don-that-thiet-ve-vu-no-phao-hoa-1772967/

“Hoàn toàn không có chuyện hàng chục người chết do nổ pháo hoa, tôi khẳng định là chỉ có 4 người chết, trong đó có 3 chuyên gia nước ngoài, 3 người bị thương hiện đã bình phục và ra viện…”.

Đó là khẳng định của ông Hồ Quang Lợi, Trưởng ban Tuyên giáo Thành ủy, Trưởng Tiểu ban Tuyên truyền 1000 năm Thăng Long – Hà Nội về những thông tin xung quanh vụ nổ pháo hoa bên ngoài SVĐ Mỹ Đình trưa 6/10.

1+.

Miễn là không có đuôi

Có đôi vợ chồng nọ là người da trắng, lấy nhau đã lâu mà vẫn chưa có con. Mãi tới gần đây, khi anh chồng hay phải đi công tác xa nhà, thì người vợ lại có bầu. Đến hôm người vợ chuẩn bị lên bàn đẻ ở bệnh viện, anh chồng gọi điện hỏi thăm. Cô vợ nói:

– Anh ơi, bác sĩ chẩn đoán con mình có đuôi.

Anh chồng lo lắm. Tới hôm vợ đẻ xong, hắn hỏi ngay con mình thật là có đuôi hay không. Cô vợ trả lời:

– May quá, không có đuôi, nhưng mà nó đen thui.

– Thôi đen cũng được, miễn là không có đuôi.

2. ‘Đại lễ nghìn năm đã đạt mục tiêu hoành tráng’
http://vnexpress.net/GL/Xa-hoi/2010/10/3BA21AA0/

“Nếu ai đó nói rằng công tác tổ chức đại lễ còn hạn chế thì đó là do nhận thức chưa tốt. Đại lễ đã thành công, đạt mục tiêu trang trọng, hoàng tráng, ấn tượng”, Chủ tịch UBND Hà Nội Nguyễn Thế Thảo bày tỏ quan điểm chiều 15/10.

3. Thủy Tinh: Lũ miền Trung đã đạt mục tiêu hoành tráng

Hà Tĩnh lại chới với trong cơn lũ lịch sử
http://nongnghiep.vn/nongnghiepvn/vi-VN/61/158/1/112/112/61025/Default.aspx

Lũ lớn chưa từng có ở miền Trung

http://vietnamnet.vn/xahoi/201010/Lu-lon-chua-tung-co-o-mien-Trung-942745/

Vỡ đập ở Hà Tĩnh, lũ miền Trung lại lên
http://vietnamnet.vn/xahoi/201010/Vo-dap-o-Ha-Tinh-lu-mien-Trung-lai-len-942576/

Hà Tĩnh: Sắp không còn nhìn thấy nóc nhà nào nữa
http://www.vietnamnet.vn/radiovnn/201010/Ha-Tinh-Sap-khong-con-nhin-thay-noc-nha-nao-nua-942859/

Bão Megi cấp 14 tiến vào Biển Đông

http://www.tienphong.vn/Thoi-Su/515680/Bao-Megi-cap-14-tien-vao-Bien-Dong.html

Posted in Uncategorized | Leave a Comment »

“cụ Hồ không phải là một chính trị gia có lý tưởng dân chủ” – VOA

Posted by Trần Dương on Tháng Chín 17, 2010

Nguồn: http://www.voanews.com/vietnamese/news/tu-tuong-ho-chi-minh-102953654.html

VOA: Ông đánh giá thế nào về Hồ Chí Minh?

Bác sĩ Phạm Hồng Sơn: Theo tôi việc đánh giá cụ Hồ một cách toàn diện còn là một việc không dễ dàng và rất dễ gây tranh cãi, bất hòa bởi các thông tin về cụ Hồ chưa được bạch hóa một cách rộng rãi và nhiều người vẫn giữ nếp nghĩ theo lối duy cảm, tôn sùng thần tượng. Nhiều thông tin về cụ Hồ còn mơ hồ và ngay bản thân cụ Hồ khi sinh thời lại rất kín đáo về quá trình hoạt động và về đời tư của cụ. Chẳng hạn như ngay ngày sinh, nơi chôn nhau cắt rốn hay ông nội của cụ là ai vẫn là một vấn đề tranh cãi. Ở đây tôi chỉ muốn xét riêng dưới góc độ dân chủ và chỉ căn cứ vào những sự kiện đã rõ ràng thì tôi cho rằng cụ Hồ không phải là một chính trị gia có lý tưởng dân chủ. Chỉ cần căn cứ vào một số sự kiện và chính sách của chính phủ VNDC CH khi cụ Hồ cầm quyền từ 1946 đến 1969 ta có thể thấy rõ.

Thứ nhất, nói đến dân chủ là phải nói đến tinh thần tôn trọng ý kiến khác biệt, tôn trọng phe đối lập, phải coi những gì đối lập với mình là sự tồn tại tự nhiên và cần thiết. Tự nhiên là vì không có một xã hội nào mà tất cả mọi người đều có cùng một ý kiến trên cùng một vấn đề. Cần thiết là vì đối lập giúp cho mỗi người ít nhất cũng giảm được khả năng sai lầm, ngộ nhận hay tự phụ. Nhưng chính phủ của cụ Hồ cuối cùng đã không để cho một thành phần đối lập hay một đảng đối lập nào có thể tồn tại. Riêng Đảng Dân chủ hay Đảng Xã hội, những đảng vẫn tồn tại sau năm 1954 trên miền Bắc, thực chất chỉ là những tổ chức của Đảng Lao Động Việt Nam (chính là Đảng Cộng sản) của cụ Hồ mà thôi.

Thứ hai, cụ Hồ là một trong những người đóng vai trò chính trong việc lập ra Hiến pháp năm 1959. Bản Hiến pháp 1959 không chỉ được thiết lập một cách vi hiến (theo qui định của bản Hiến pháp 1946) mà còn xóa đi hết tinh thần tiến bộ và dân chủ đã có trong bản Hiến pháp 1946. Hiến pháp 1959 đã mở đầu cho tính Đảng, tính lãnh tụ và tính độc tài toàn trị trở thành nền tảng cơ bản trong các bản hiến pháp tiếp theo. Chính Hiến pháp 1959 đã biến Quốc hội, kể từ đó, trở thành một cơ quan bù nhìn, một cơ quan cấp dưới của Đảng Cộng sản Việt nam. Và cũng chính từ năm 1959, Bộ Tư pháp (một nhánh quyền lực độc lập quan trọng của chế độ dân chủ) bị xóa hẳn cho đến tận năm 1981 mới được lập lại nhưng cũng chỉ là một cơ quan của Đảng Cộng Sản Việt Nam thôi.

Thứ ba, sau khi quyền lực chính trị (ở miền Bắc) đã hoàn toàn do đảng của cụ Hồ nắm giữ thì những quyền tự do cơ bản của dân như quyền ra báo tư nhân, quyền xuất bản tư nhân, quyền hội họp và lập hội mà cụ Hồ đã đòi hỏi thực dân Pháp phải trao đầy đủ hơn cho người dân An-nam trước đây cũng dần biến mất hẳn trên nước Việt nam Dân chủ Cộng hòa do cụ Hồ làm chủ tịch. Ngay cả một vấn đề mà chính cụ Hồ là người chắc phải rất thấm thía về ích lợi của nó là tính độc lập và tuân thủ pháp luật của tòa án khi cụ Hồ bị bắt và đưa ra tòa tại Hồng Công vào năm 1932, chúng ta cũng không thấy cụ Hồ đả động gì đến khi diễn ra hàng loạt những vụ tống giam không cần xét xử hoặc xét xử hết sức chiếu lệ các trí thức, nhân sỹ trong các vụ án Nhân văn-Giai phẩm hay vụ án Xét lại chống Đảng.

Và khi có nhân sỹ, như Luật sư Nguyễn Mạnh Tường, góp ý rất chân thành với cụ Hồ về tầm quan trọng đối với đất nước trong việc cần phải xây dựng một nhà nước tôn trọng dân chủ, tôn trọng pháp luật thì cụ Hồ không những không áp dụng mà người góp ý còn bị hắt hủi, trù dập hết sức nghiệt ngã. Cụ Hồ cũng đã thể hiện sự tránh né trách nhiệm của người đứng đầu hệ thống chính trị trong vụ Cải cách ruộng đất khi để Đại tướng Võ Nguyên Giáp đứng ra xin lỗi nhân dân và chỉ để một số nhân vật cấp dưới chịu kỷ luật. Vì vậy để suy đoán liệu cụ Hồ có hiểu về dân chủ không thì có thể còn phải nghiên cứu và tranh luận thêm, nhưng căn cứ vào thực tế có thể khẳng định trong thời gian cầm quyền cụ Hồ không muốn xây dựng một chế độ dân chủ tại Việt nam, cụ Hồ không muốn người dân, kể cả giới trí thức, được hưởng những quyền tự do như cụ đã yêu sách thực dân Pháp.

Khi cầm quyền, cụ Hồ đã để cho chính phủ của cụ tạo ra nhiều tiền lệ cầm quyền độc đoán, nhẫn tâm, phi dân chủ hay dân chủ giả hiệu, có thể nói, lớn đến mức mà vết hằn sâu của nó đến nay vẫn còn hiện rõ trong cả hệ thống chính quyền hiện thời.

Posted in Uncategorized | Leave a Comment »

Disclaimer với bài viết “Bệnh bất lực, sự nhiệt tình và dăm cái tát”

Posted by Trần Dương on Tháng Chín 14, 2010

Mới đây, tôi mới đọc được bài viết “Bệnh bất lực, sự nhiệt tình và dăm cái tát” đăng trên BoxitVN ngày 29/7/2010: http://www.boxitvn.net/bai/8521 có ký tên tác giả là Trần Dương. Bài viết này không phải là của tôi – chủ nhân của blog này. Trong gần 1 năm qua, tôi đã đóng blog này và không hề có bài viết nào về chính trị cũng như các vấn đề thời sự khác.

Tới nay, tôi chỉ có duy nhất 1 bài viết đăng trên BBC là vào năm 2008:
http://www.bbc.co.uk/vietnamese/forum/story/2008/08/080813_vietnameconomyreview.shtml

và tôi có tham gia ký tên trong danh sách phản đối khai thác boxit ở Tây Nguyên vào năm 2009:
http://www.boxitvn.net/kien-nghi/danh-sach-3

Posted in Uncategorized | Leave a Comment »